Viện kiểm sát: Hợp đồng 33 thực chất chỉ là “phù phép” để PVN chuyển tiền về PVC

0
24

Nội dung trả lời về việc chỉ định thầu và lựa chọn nhà thầu, ký kết nhà thầu, tạm ứng, sử dụng tiền tạm ứng đối với dự án Nhà máy Nhiệt điện (NMNĐ) Thái Bình 2 do PVC được chỉ định làm tổng thầu theo Hợp đồng số 33 (HĐ 33) cũng như được PVN cấp tạm ứng số tiền hơn 6 triệu USD và hơn 1.300 tỷ đồng.

PVC có đủ năng lực thi công?

Tại phiên tòa, bị cáo Đinh La Thăng khai việc chỉ định thầu dự án NMNĐ Thái Bình 2 xuất phát từ chủ trương của Chính phủ về phát huy nguồn lực, đẩy mạnh phát triển kinh tế, đưa ngành dầu khí thành ngành kinh tế mũi nhọn, bao gồm cả dịch vụ và xuất nhập khẩu (XNK). Tuy nhiên, Chính phủ không có bất cứ văn bản nào đồng ý PVN chỉ định thầu mà yêu cầu PVN lựa chọn nhà thầu có năng lực.

Về năng lực tài chính, để đánh giá tình hình tài chính, PVC phải xét đến các chỉ số thanh toán, nguồn vốn đầu tư, trả nợ, không chỉ nhìn vào kết quả kinh doanh.

Tại thời điểm 31/12/2009, nợ ngắn hạn PVC 1.982 tỷ đồng, chiếm 83% tổng vốn phải trả cho DN. Theo báo cáo tài chính (BCTC) năm 2010, tài sản ngắn hạn thấp hơn nợ ngắn hạn hơn 3.000 tỷ đồng. Sau khi bố trí cho đầu tư tài chính dài hạn khoảng 2.800 tỷ đồng, nguồn còn lại chỉ 50 tỷ đồng.

PVC bị áp lực trả nợ ngắn hạn, đến năm 2011 vẫn chưa thể trả nợ gốc cho PVN nhưng vay tiếp PVN 400 tỷ đồng để đầu tư vào công ty con. Tài sản ngắn hạn nhỏ hơn nợ ngắn hạn hơn 558 tỷ đồng, có tới 199 tỷ đồng đầu tư dài hạn của PVC phải sử dụng vốn ngắn hạn.

Như vậy, ngay năm 2010, PVC đã gặp khó khăn về vốn. Các dự án khi nhận chuyển nhượng từ PVFC đa số là dự án BĐS đang gặp rất nhiều khó khăn về vốn, do đó PVC đã phải hỗ trợ vốn kinh doanh và trả nợ cho các đơn vị bằng nguồn vốn vay ủy thác của Tập đoàn hơn 700 tỷ đồng.

Sau khi tiền tạm ứng hơn 6 triệu USD và hơn 1.300 tỷ đồng từ BQLDA Nhiệt điện Thái Bình 2 thuộc PVN về PVC đã bị các ngân hàng tự động thu nợ, điều này cho thấy PVC gặp khó khăn về tài chính trong năm 2011. Rõ ràng tình hình tài chính PVC là không lành mạnh nhưng PVN vẫn quyết định chỉ định thầu đối với PVC tại dự án NMNĐ Thái Bình 2.

Đại diện VKS giữ quyền công tố tại phiên tòa đọc lời đối đáp sáng 15/1.

PVC có đủ năng lực kinh nghiệm?

PVC không đáp ứng kinh nghiệm của một nhà thầu, trong số các hợp đồng (HĐ) cung cấp không có HĐ thiết kế cho dự án, 2 HĐ liên quan đến Nhiệt điện là Vũng Áng và Nhơn Trạch 2, PVC chỉ thi công xây dựng chứ không làm HĐ thiết kế. Do đó, việc đánh giá hồ sơ đáp ứng yêu cầu là không có cơ sở.

Trong hai hồ sơ xây lắp lớn nhất liên quan đến nhiệt điện trước đó, chỉ có giá trị HĐ bằng 25% tổng giá trị HĐ tại NMNĐ Thái Bình 2. Chính bị cáo Trịnh Xuân Thanh cũng thừa nhận tại thời điểm đó PVC không có đủ năng lực kinh nghiệm.

Dự án đã thi công kéo dài gấp đôi thời gian dự kiến, chi phí phát sinh tới 155 tỷ đồng/năm.

Câu hỏi đặt ra là liệu có thể đưa PVC lên làm tổng thầu theo mục tiêu ưu tiên Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam?

Ngày 14/1/2011, Nguyễn Quốc Khánh ký quyết định thay đổi công nghệ của dự án. Ngày 28/2, PVC và PV Power ký HĐ 33 trong điều kiện thiếu một loạt căn cứ cần thiết. Nhiều nội dung trong HĐ không có thật. Ngày 13/5/2011, Nguyễn Quốc Khánh đã thay mặt PVN ký HĐ 4194 với PVC thực chất là chuyển đổi chủ đầu tư về PVN.

Do vậy, VKS cho rằng HĐ 33 thực chất chỉ là “phù phép” để chuyển tiền về PVC.

Việc PVC thu hồi 1.240 tỷ đồng tính đến 13/9/2016 là thu hồi nội bộ tại PVC không liên quan đến số tiền PVN tạm ứng cho PVC. Trong thời hạn PVC tạm ứng tiền cho đến khi PVN có công văn thu hồi tiền tạm ứng, PVC đang chiếm dụng của PVN 1.115 tỷ đồng. Không có căn cứ nào cho rằng PVC đã thu hồi thừa tiền tạm ứng như các luật sư đã nêu.

Số tiền tạm ứng được PVC góp vốn vào các công ty con và thanh toán trả nợ ngân hàng.

Xác định thiệt hại hơn 119 tỷ đồng

Các bị cáo thừa nhận việc tạm ứng không đúng pháp luật, việc sử dụng tiền sai mục đích là trái pháp luật. Thiệt hại xảy ra từ 2011-2012, chủ đầu tư không thu hồi tiền tạm ứng do PVC chiếm dụng. Cơ sở tính thiệt hại bằng lãi tiền gửi ngân hàng theo quy định Điều 608 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015. Trong vụ án này, việc xác định thiệt hại căn cứ vào khoản 3 của Điều 608 là lợi ích gắn liền với thiệt hại.

Trong số tiền tạm ứng, đến 30/8/2011, toàn bộ số tiền này đã không còn và bị sử dụng sai mục đích 1.100 tỷ đồng. Tính đến hết năm 2011 chỉ sử dụng cho dự án 169 tỷ đồng, cả năm 2012 chỉ sử dụng khoảng 1,5 tỷ đồng cho dự án, chủ yếu là chi phí quản lý vì chưa có thiết kế kỹ thuật.

Như vậy, số tiền PVC chiếm dụng không có lãi tức là 1.115 tỷ đồng, trong khi vốn tạm ứng là vốn đầu tư phát triển của PVN. Do đó không có cơ sở để tạm ứng cho PVC trong điều kiện bình thường. Việc tính lãi suất theo lãi suất tiền gửi có kỳ hạn là hoàn toàn hợp lý. VKS cho rằng có số tiền thiệt hại 119 tỷ đồng là có căn cứ và hợp lý.

Có lợi ích nhóm?

Theo VKS, xét về các mối quan hệ cho thấy Vũ Đức Thuận và Đinh La Thăng có vai trò quyết định trong việc về PVC và được cất nhắc để nắm giữ vị trí chủ chốt. Đinh La Thăng đã bỏ qua các quy định của pháp luật để chỉ định PVC làm tổng thầu của dự án. Qua đó cho thấy rõ mối quan hệ mang tính lợi ích nhóm tại đây.

Nguồn: infonet.vn

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.