Kiên quyết xử lý nợ theo nguyên tắc thị trường

0
69

Thà đau một lần!

50 DN của Vinashin đang rơi vào tình trạng này, hiện chưa có hướng xử lý, mà kéo dài sẽ càng làm tăng nợ công dù trên danh nghĩa. Tinh thần cao nhất cần quán triệt là thực hiện nghiêm chỉ đạo về xử lý nợ của DNNN theo cơ chế thị trường, không được làm tăng nợ công; tức cần cho phá sản hoặc bán đứt các doanh nghiệp thua lỗ, thà cắt đau một lần, không để vết thương rỉ máu kéo dài gây hoại tử cơ thể hoặc ô nhiễm môi trường. DN thua lỗ không thể tiếp tục sản xuất để có lãi trả nợ, nên có thể dùng hình thức bán đấu giá quyền sử dụng đất của DN để tạo nguồn tài chính trang trải cho các nghĩa vụ của DN để được phá sản hoặc xem xét điều chỉnh luật định để việc phá sản đơn giản và ít vướng các quy định cứng trên. Đồng thời, xác định rõ trách nhiệm và xử lý nghiêm đối với các tổ chức, cá nhân có sai phạm trong quá trình đầu tư, vận hành, khai thác và quản lý các DN này…

Trong nhận thức của các cơ quan chức năng và cả luật định hiện hành cũng ghi nhận là nợ công không bao gồm nợ của DNNN tự vay tự trả. Nói cách khác, nợ của DNNN tự vay tự trả được coi như nợ của DN tư nhân. Tuy nhiên, sự đồng nhất này đã, đang và sẽ tạo áp lực trực tiếp hay gián tiếp đẩy vỡ trần nợ công, là tác nhân gia tăng và làm đầy thêm gánh nặng nợ công Chính phủ. Bởi lẽ, thực tế VN cho thấy có mối tương quan chặt chẽ và cộng hưởng áp lực giữa nợ công với nợ DNNN và cả nợ của các ngân hàng thương mại. Đặc biệt, thông lệ quốc tế thường quy trách nhiệm cuối cùng và cao nhất cho chủ sở hữu của doanh nghiệp – con nợ, mà bài học đắt đỏ về NSNN phải trả nợ thay cho các khoản nợ quốc tế “tự vay tự trả” của DNNN Vinashin vẫn còn đang nóng hổi!

Trước khi tái cơ cấu, nợ của Vinashin cập nhật đến cuối năm 2010 lên đến 86.000 tỉ đồng (chưa tính lãi). Bao gồm: 600 triệu USD vay lại trái phiếu quốc tế của Chính phủ; nợ tín dụng trong nước (chiếm khoảng 37%); nợ của các đối tác nước ngoài và chủ tàu thông qua việc cung cấp vật tư, thiết bị và nợ phát sinh do hủy hợp đồng. Sau khi được khoanh nợ, xóa và giảm trừ nghĩa vụ nợ thông qua việc chấm dứt hoạt động của Vinashin từ mô hình tập đoàn sang mô hình tổng công ty (SBIC) và đàm phán tái cơ cấu nợ với các chủ nợ cho cả 3 khoản vay nói trên. Đến năm 2013, SBIC đã giảm được 22.000 tỉ đồng nợ gốc và lãi. Trong đó, giảm 70% nghĩa vụ nợ trong nước (13.152 tỉ đồng – giai đoạn 1), giảm 52% nghĩa vụ nợ trái phiếu quốc tế (6.844 tỉ đồng) và giảm 2.000 tỉ đồng nợ của các đối tác, chủ tàu. Trong năm 2013, Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp (DATC – thuộc Bộ Tài chính) đã phát hành trái phiếu do Chính phủ bảo lãnh để hoán đổi trái phiếu Vinashin cho các chủ nợ. Trái phiếu mới có giá trị hơn 600 triệu USD với lãi suất 1%/năm, có kỳ hạn 12 năm và cả gốc và lãi sẽ được trả 1 lần vào năm 2025. Trong trường hợp, SBIC không trả được khoản nợ trái phiếu này thì Bộ Tài chính sẽ ứng tiền trả thay, khi SBIC có nguồn sẽ trả sau. Năm 2016, tại một báo cáo của Ủy ban Tài chính ngân sách với Quốc hội, cơ quan này dự kiến nợ dự phòng ngân sách Nhà nước phải ứng trả thay trong 10 năm tới cho SBIC là 63.200 tỉ đồng. Nghĩa vụ nợ dự phòng của SBIC không chỉ bao gồm nợ được Chính phủ bảo lãnh, mà gồm cả nợ Chính phủ vay về cho vay lại với Vinashin.

Đừng để gánh nặng nợ DNNN “đè” lên ngân sách

Trên thực tế, một số tập đoàn, tổng công ty và DNNN đã lạm dụng huy động vốn kiểu “tự vay tự trả” lớn, vượt quá mức khống chế theo quy định (không quá 3 lần vốn chủ sở hữu) dễ dẫn đến mất khả năng thanh toán, ảnh hưởng đến an toàn tài chính của doanh nghiệp và có thể khiến NSNN phải trả nợ thay hoặc gánh lỗ cho chúng.

Theo Bộ Tài chính, các tập đoàn, TCty nhà nước năm 2015 có tổng số nợ phải trả lên đến 1,5 triệu tỉ đồng, tăng 1% so với thực hiện năm 2014. Hệ số nợ phải trả/vốn chủ sở hữu bình quân năm 2015 là 1,23 lần. Số nợ các DNNN vay từ các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng cũng đầy áp lực, đứng đầu là Tập đoàn Điện lực VN (134.014 tỉ đồng); Tập đoàn CN Than – Khoáng sản VN (42.743 tỉ đồng); Tập đoàn Hóa chất VN (29.997 tỉ đồng); Tập đoàn Viettel (16.313 tỉ đồng); Vinalines (14.734 tỉ đồng). Riêng 12 dự án nhà máy nghìn tỉ thua lỗ của Bộ Công Thương trong diện “nóng” cần xử lý có tổng tài sản là 57.679,02 tỉ đồng; tổng nợ phải trả là: 55.063,38 tỉ đồng; vay nước ngoài có bảo lãnh của Chính phủ là: 6.617,24 tỉ đồng. Tổng số lỗ luỹ kế của 10 trong số 12 nhà máy đang sản xuất hoặc đã dừng sản xuất tới thời điểm 31.12.2016 là 16.126,02 tỉ đồng, trên tổng số vốn chủ sở hữu còn lại là: 3.985,14 tỉ đồng. Nợ nước ngoài của các DNNN là 348.189 tỉ đồng, chủ yếu là vay dài hạn với số tiền là gần 310.000 tỉ đồng. Trong đó, nguồn vay vốn ODA của Chính phủ chiếm hơn 121.000 tỉ đồng; vay nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh (97.179 tỉ đồng); vay nước ngoài theo hình thức tự vay, tự trả là 62.035 tỉ đồng… Nợ khó đòi của các DNNN là 16.715 tỉ đồng, tăng 11% so với thực hiện năm 2014, chiếm 4,9% tổng số nợ phải thu. Trong đó dẫn đầu là Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam với 6.787 tỉ đồng; Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam 1.455 tỉ đồng; Tập đoàn Viễn thông quân đội 972 tỉ đồng…

Thực tế cho thấy, nợ công đang ngày một tăng nhanh và áp lực trả nợ lớn. Năm 2016, ước nợ công của Việt Nam đạt 64,98%, sát trần của Quốc hội cho phép; trong đó nợ của Chính phủ là 53,1%, cao hơn mức trần cho phép cũ và sắp phá vỡ trần mới theo Nghị quyết số 25/2016/QH14 ngày 9.11.2016 của Quốc hội về kế hoạch tài chính 5 năm của quốc gia giai đoạn 2016- 2020, với quy định nợ công hàng năm (bao gồm nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương) không quá 65% GDP, nợ Chính phủ không quá 54% GDP và nợ nước ngoài của quốc gia không quá 50%.

Tháng 4.2017, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình quản lý nợ trung hạn giai đoạn 2016-2018 với mục tiêu nợ không quá 65% GDP, trong đó dư nợ Chính phủ không quá 54% GDP và nợ nước ngoài của quốc gia không quá 50% GDP. Khống chế bội chi ngân sách địa phương năm 2017 khoảng 6.000 tỉ đồng, năm 2018 khoảng 11.100 tỉ đồng. Hạn mức vay thương mại nước ngoài (vay ròng) của các DN và tổ chức tín dụng theo hình thức “tự vay, tự trả” tối đa khoảng 5,5 tỉ USD/năm. Tiếp tục kiểm soát chặt chẽ mức dư nợ nước ngoài ngắn hạn của quốc gia, tốc độ tăng hàng năm tối đa 8-10%/năm.

Nguồn: laodong.com.vn

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here