Nếu cứng nhắc, máy móc thì không thể có Luật đặc khu

0
33

Nếu cứng nhắc, máy móc thì không thể có Luật đặc khu

Tư Hoàng

Ông Nguyễn Văn Phúc. Ảnh: TH

(TBKTSG Online) – Nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Nguyễn Văn Phúc, người có nhiều kinh nghiệm về làm luật kinh tế, trao đổi với TBKTSG Online về dự thảo Luật đơn vị hành chính đặc biệt đang còn gây nhiều tranh cãi nhân dịp Quốc hội sẽ xem xét vào ngày 10-11 tới.

Dự thảo Luật đơn vị hành chính đặc biệt với những chính sách “vượt trội” đang gây ra tranh luận nhiều chiều. Là người từng gắn bó lâu năm với công tác lập pháp, ông nhìn nhận như thế nào về chuyện này?

– Cách đây đúng 30 năm Quốc hội đã ban hành Luật đầu tư nước ngoài 1987. Hồi ấy mới tổ chức Đại hội VI, Hiến pháp 1980 vẫn còn hiệu lực. Bản Hiến pháp đó chỉ tập trung phát triển kinh tế hai thành phần là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể và tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa. Nếu Quốc hội cứ máy móc bám theo những nguyên tắc cứng nhắc đó thì không thể ban hành được đạo luật đổi mới như vậy vào năm 1987.

Đặt lại vấn đề này để thấy sau 30 năm, Chính phủ xác định những động lực phát triển của đất nước đã tới hạn, và cần đổi mới thể chế mạnh mẽ, vì thế nên có luật đặc khu.

Song, có không ít ý kiến đặt vấn đề luật này đã vượt trội nhiều nguyên tắc truyền thống?

– Đúng là có nhiều người đặt câu hỏi, đặc khu với thể chế vượt trội thì có phù hợp với các nguyên tắc truyền thống của ta không, hay quyền lực nhân dân được thực hiện như thế nào, dân chủ được bảo đảm như thế nào, sự lãnh đạo của Đảng như thế nào… Tất cả các câu hỏi đó đều chính đáng. Nhưng nếu chúng ta máy móc như vậy thì sẽ không có Luật đặc khu; nếu Quốc hội cũng cứng nhắc như vậy thì sẽ không thể thông qua Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài 30 năm trước.

Bên cạnh đó, dù có những chính sách đặc biệt và mô hình kinh tế đặc biệt, vẫn có những cơ chế đảm bảo quyền kiểm tra giám sát của nhân dân.

Ông nhìn nhận như thế nào về hai mô hình tổ chức chính quyền của đặc khu là ông trưởng đặc khu hoặc mô hình có đủ ban bệ? Mô hình một vị trưởng đặc khu đang có ý kiến gây tranh cãi vì cho rằng trái với Hiến pháp.

– Tôi từng là Phó ban biên tập sửa đổi Hiến pháp 2013 nên rất rõ băn khoăn này. Chương về chính quyền địa phương quy định chính quyền địa phương có ba đặc điểm là đa dạng hóa đơn vị hành chính; đa dạng hóa về cơ cấu tổ chức; và đa dạng hóa về chức năng nhiệm vụ. Đây là điểm thay đổi tư duy rất đặc biệt, theo đó, chính quyền địa phương không nhất thiết phải giống nhau, miền núi có thể khác miền xuôi, hải đảo có thể khác với đất liền, đô thị tổ chức chính quyền khác với nông thôn.

Có thể khẳng định Chương về chính quyền địa phương trong Hiến pháp 2013 đã được thiết kế theo hướng mở để tạo không gian cho tổ chức chính quyền địa phương phù hợp với từng đặc điểm, điều kiện của từng nơi, trong từng giai đoạn, có hội đồng nhân dân cũng được mà không có cũng được.

Hiểu Hiến pháp như thế để thấy phương án (về vị trí trưởng đặc khu) Chính phủ đưa ra phù hợp. Trong cuộc thảo luận ở Ủy ban Thường vụ về dự thảo luật, các ủy ban của Quốc hội đều thống nhất: quy định về chính quyền đặc khu không được trái Hiến pháp nhưng được khác với các luật ban hành trước đó. Theo đôi, đây là quan điểm chỉ đạo đúng đắn. Còn nếu chúng ta không an tâm thì mãi không làm được, không đổi mới được.

Tôi muốn bổ sung: hiện tại chúng ta có chính quyền 4 cấp trung ương, tỉnh, huyện, xã, cấp nào cũng có hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân. Chúng ta duy trì một nền hành chính tầng tầng lớp lớp như thế, mà người ta vẫn vi phạm nếu họ cố tình, nếu cơ chế kiểm soát ở đó không hiệu quả.

Ông hy vọng như thế nào về tính lan tỏa của đơn vị hành chính đặc biệt?

– Thứ nhất, tôi muốn nói về thử nghiệm đối với mô hình chính quyền khác với mô hình truyền thống mà dự thảo đưa ra. Điểm này trùng với thời điểm Nghị quyết Trung ương V số 11 về hoàn thiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tôi có niềm tin là nếu thành công, sự lan tỏa về thể chế từ đó là rất mạnh. Chúng ta biết, trên phạm vi toàn quốc, cải cách bộ máy nhà nước là rất khó khăn, bị bó buộc bởi các quan niệm và cả lợi ích. Nếu được Quốc hội chấp nhận, triển khai thì ba đặc khu là phòng thí nghiệm về quản trị nhà nước, từ đó hy vọng sẽ có tác động lan tỏa ra toàn quốc.

Về tác động lan tỏa kinh tế, sau nhiều lần thảo luận ở các đại hội Đảng và ở Bộ Chính trị đã dẫn đến quan điểm thống nhất là đặc khu không phải của riêng Quảng Ninh, Khánh Hòa hay Kiên Giang. Vân Đồn ở miền Bắc sẽ tạo ra sự lan tỏa, kết nối vòng cung phát triển Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội. Bắc Vân Phong sẽ là tác động đến kinh tế miền Trung nhờ dựa trên trục vận tải quốc tế. Còn Phú Quốc kết hợp với cảng hàng không quốc tế Long Thành. Ba đặc khu này được đặt ở ba vị trí kinh tế cực kỳ quan trọng, có tác động lan toa đến cả vùng và cả nước.

Theo ông, liệu Luật này có còn cần thiết bây giờ nữa không khi Việt Nam đã cởi mở rất nhiều sau khi sẽ có tới 16 hiệp định FTA, và thế giới thì đã có quá nhiều đặc khu?

– Tôi đã theo dõi tình hình thu hút FDI trong 30 năm qua và khẳng định, việc thành lập đặc khu là cần thiết, cần ban hành luật làm cơ cở pháp lý cho các đặc khu hoạt động, mới thu hút được các nhà đầu tư chiến lược.

Thế giới vẫn không ngừng thành lập đặc khu mới dù đến hiện nay đã có 4.500 đặc khu. Gần đây, Nhật Bản cũng vừa thành lập thêm 10 đặc khu kinh tế mới. Điều đó cho thấy, các nước trên thế giới dù có rất nhiều hiệp định thương mại tự do nhưng vẫn cần đặc khu vì họ luôn đổi mới, sáng tạo và tìm ra những mô hình mới hơn, có sức cạnh tranh hơn, phù hợp xu hướng phát triển mới như cách mạng công nghiệp 4.0.

Đến nay chúng ta mới xem xét ban hành Luật đặc khu là quá muộn vì Hiến pháp 1992 đã cho phép thành lập đặc khu. Tuy là muộn nhưng chúng ta vẫn cần phát triển nó để thử nghiệm, tìm tòi những mô hình phát triển mới.

Nguồn: thesaigontimes.vn

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.