Định nghĩa về thuế và phân loại thuế tại Việt Nam

0
19

Định nghĩa về thuế

Việc nghiên cứu về sự tồn tại và phát triển của Nhà nước đã giúp cho chúng ta hiểu ra một điều đó là: Để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của mình Nhà nước phải dùng quyền lực để bắt buộc các thành viên trong xã hội có nghĩa vụ đóng góp một phần sản phẩm, thu nhập cho Nhà nước. Hình thức đó chính là thuế. Như vậy thuế là sản phẩm tất yếu từ  sự xuất hiện bộ máy Nhà nước.

Trong quá trình tồn tại của mình, thuế đã được nghiên cứu, khái niệm thuế khá nhiều và trên nhiều góc độ khác nhau:

– Các nhà kinh điển thì cho rằng: “Thuế cấu thành nên phần thu của chính phủ, nó được lấy ra từ sản phẩm của đất đai và lao động trong nước, xét cho cùng thì thuế được lấy ra từ tư bản hay thu nhập của người chịu thuế.” ( Lênin toàn tập ).

– Trên góc độ phân phối thu nhập, người ta lại cho rằng: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng của Nhà nước.

Mặc dù các khái niệm thuế nêu trên đã đưa ra được các cách hiểu khác nhau về thuế nhưng chúng vẫn chưa bao quát hết được bản chất kinh tế của thuế.

Khái niệm thuếKhái niệm thuế

Đặc điểm và vai trò của thuếĐặc điểm và vai trò của thuế

Phân loại thuế

Tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà người ta có các cách phân loại thuế khác nhau, cụ thể như sau:

* Nếu theo phạm vi điều chỉnh của thuế thì có hai loại:

– Thuế tổng hợp: là thuế đánh vào tất cả các bộ phận cấu thành của một cơ sở thuế và không chấp nhận một trường hợp nào được loại trừ, được miễn hoặc giảm thuế từ cơ sở tính thuế đó.

– Thuế có lựa chọn: là loại thuế chỉ đánh vào một phần nhất định của cơ sở thuế.

* Nếu theo tính chất điều tiết của thuế, thì có:

– Thuế trực thu: là loại thuế mà người nộp thuế và người chịu thuế đồng thời là một

– Thuế gián thu: là loại thuế mà người nộp thuế và người chịu thuế không đồng thời là một

* Nếu theo cơ sở thuế, có:

– Thuế thu nhập: là loại thuế đánh vào thu nhập của các tổ chức kinh tế và thu nhập của các cá nhân

– Thuế tài sản: là loại thuế đánh vào việc nắm giữ hay chuyển nhượng tài sản.

– Thuế tiêu dùng: là loại thuế đánh vào việc tiêu thụ, sử dụng sản phẩm và dịch vụ.

* Nếu căn cứ vào tính chất thuế suất mà sắc thuế đó áp dụng thì có:

– Thuế tỷ lệ: là loại thuế mà thuế suất trung bình không thay đổi theo giá trị của cơ sở tính thuế.

– Thuế lũy tiến: là loại thuế mà thuế suất trung bình tăng lên khi giá trị cơ sở tính thuế tăng.

– Thuế lũy thoái: là loại thuế mà thuế suất trung bình giảm xuống khi giá trị cơ sở thuế tăng.

Nội dung và yêu cầu của một sắc thuế

a/ Nội dung

Một sắc thuế ra đời thì phải bao gồm các yếu tố sau:

– Thứ nhất, tên gọi của sắc thuế:  thông thường, tên gọi thể hiện đối tượng tác động của của sắc thuế hoặc mục tiêu của việc áp dụng sắc thuế đó.

– Thứ hai, đối tượng nộp thuế: là các tổ chức kinh tế hoặc các cá nhân có trách nhiệm phải kê khai và thực hiện nghĩa vụ nộp thuế vào ngân sách Nhà nước theo quy định của mỗi sắc thuế.

– Thứ ba, cơ sở thuế: là đối tượng tác động của một  chính sách thuế.

– Thứ tư, thuế suất: phản ánh mức độ điều tiết trên một cơ sở thuế.

b/ Yêu cầu đối với một sắc thuế

Khi tiến hành nghiên cứu và xây dựng một sắc thuế mới, các nhà hoạch định chính sách luôn mong muốn đó là sắc thuế hoàn thiện. Muốn được như vậy thì ngay khi  nghiên cứu xây dựng phải đảm bảo các yêu cầu sau:

Bao quát hết các nguồn thu trong nền kinh tế. Đây là yêu cầu hết sức quan trọng, bởi vì nó sẽ tập trung nguồn thu lớn cho ngân sách đồng thời cũng tạo công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế.

Các sắc thuế phải đảm bảo tính công bằng. Đó là công bằng ngang và công bằng dọc

Nội dung của từng sắc thuế phải đảm bảo tính đơn giản, dễ kiểm tra, dễ thực hiện.  Điều này sẽ giúp cho các sắc thuế đi vào cuộc sống một cách dễ dàng, giúp các đối tượng nộp thuế thuận lợi hơn trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế của mình.

Cơ chế quản lý thuế

Hiện nay trên thế giới có hai cơ chế quản lý thuế chính đó là : Cơ chế cơ quan thuế tính thuế và cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế.

Cơ chế cơ quan thuế tính thuế đòi hỏi cán bộ thuế phải kiểm tra tất cả các tờ khai trước khi ra thông báo thuế. Cơ chế này thể hiện sự không tin tưởng của cơ quan thuế với các đối tượng nộp thuế, cách thức quản lý mang tính áp đặt, nặng về sử dụng quyền lực.

Tự kê khai, tự nộp thuế là cơ chế hành thu mà đối tượng nộp thuế tự kê khai, tự tính toán số thuế phải nộp của mình theo luật định và chủ động nộp thuế cho nhà nước theo số thuế mà mình đã tính toán.

Với xu thế phát triển của thế giới hiện nay thì cơ chế cơ quan thuế tính thuế không còn phù hợp nữa bởi khi mà nền kinh tế phát triển số lượng đối tượng nộp thuế ngày càng nhiều, nếu vẫn áp dụng cơ chế cũ thì nguồn nhân lực của cơ quan thuế cũng tăng lên đáng kể, nó trái ngược với yêu cầu tinh giảm số lượng công chức nhà nước.

Bên cạnh đó, ưu điểm của cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế ngày càng được phát huy như là tiết kiệm thời gian công sức do cán bộ quản lý thu thuế hàng tháng sẽ không mất thời gian để tính toán lại số thuế phải nộp hay đi gửi thông báo thuế, tiết kiệm chi phí quản lý hành chính về thuế, nâng cao trách nhiệm pháp lý của đối tượng nộp thuế..

Bởi vậy, điều tất yếu xảy ra là cơ chế  quản lý thuế theo hình thức tự kê khai, tự nộp thuế sẽ dần thay thế cho cơ chế cơ quan thuế tính thuế.

Hi vọng bài viết “Khái niệm thuế, đặc điểm, vai trò và phân loại thuế” này sẽ cung cấp những kiến thức mà bạn đang tìm kiếm. Chúc bạn học tập tốt!

Xem thêm thông tin khác: các cơ quan bộ máy nhà nướcmẫu báo cáo thực tập thực tếmôi trường marketing vi mô

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.