Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và 2 nhân tố ảnh hưởng

0
14

1/ Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

– Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Theo diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) báo cáo về khả năng cạnh tranh toàn cầu  vào năm 1997 thì năng lực cạnh tranh được hiểu là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý chí trên thị trường cạnh tranh, bảo đảm thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời đạt được những mục tiêu của doanh nghiệp đặt ra.

– Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong và ngoài nước. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, lợi nhuận và thị phần mà doanh nghiệp đó có được.

Định nghĩa đó cho thấy, một doanh nghiệp được coi là có năng lực cạnh tranh khi doanh nghiệp đó dám chấp nhận cạnh tranh, chấp nhận sự tồn tại của đối thủ cạnh tranh, chấp nhận việc giành những điều kiện thuận tiện có lợi cho chính doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần phải có tiềm lực đủ mạnh để có thể đảm bảo đứng vững trong cạnh tranh.

Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệpKhái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

2/ Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

a/  Nhóm nhân tố thuộc môi trường vĩ mô

– Kinh tế

Môi trường kinh tế bao gồm các chính sách phát triển kinh tế, chính sách thương mại, chính sách cạnh tranh, chính sách đầu tư, chính sách hợp tác với nước ngoài,…Các chính sách và biện pháp kinh tế như vậy nhằm khuyến khích hay hạn chế, ưu tiên hay kìm hãm sự phát triển của từng ngành cụ thể, do đó ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp thuộc các ngành đó.

Bên cạnh đó, sự phát triển của nền kinh tế được thể hiện thông qua GDP. Do đó, khi GDP đạt mức cao tức là nền kinh tế đang phát triển theo xu thế tích cực làm tăng thu nhập cũng như khả năng thanh toán của người dân sẽ tăng lên. Ngoài ra, nền kinh tế diễn ra theo xu thế tích cực còn thể hiện ở các chỉ số lạm phát thấp, thuế không tăng, giá cả ổn định. Đây chính là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp phát triển.

Doanh nghiệp nào có khả năng nắm bắt được những cơ hội này thì sẽ thành công và khả năng cạnh tranh cũng sẽ tăng lên.

Tuy nhiên, khi nền kinh tế diễn ra theo xu thế tiêu cực, lạm phát tăng cao, giá tăng, sức mua của người dân giảm sút lại làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

-Chính trị, luật pháp.

Sự ổn định chính trị xã hội, chính sách điều tiết vĩ mô kinh tế của nhà nước, sự rõ ràng của hệ thống luật pháp có tác động lớn tới môi trường kinh doanh của doanh nghiệp. Sự ổn định chính trị đem lại sự lành mạnh hóa xã hội, sự ổn định kinh tế.

Hệ thống luật pháp rõ ràng đã tạo ra một hành lang thông thoáng, bảo đảm sự bình đẳng cho các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh và cạnh tranh có hiệu quả. Qua đó, một mặt tạo thuận lợi cho mọi doanh nghiệp kinh doanh, mặt khác doanh nghiệp dựa vào đó mà điều chỉnh hoạt động của mình để hài hòa lợi ích của các doanh nghiệp khác trong xã hội và trên thương trường quốc tế đảm bảo sự cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp của mình với các doanh nghiệp của các nước khác.

Việc chấp hành luật pháp nghiêm minh của các cơ quan quản lý và các doanh nghiệp sẽ đưa lại hiệu quả kinh doanh tốt. Ngược lại nếu việc thực thi pháp luật không nghiêm minh, thiếu trong sáng thì tất sẽ dẫn doanh nghiệp vào con đường bất chính như là trốn thuế, gian lận thuế hay sản xuất kinh doanh hàng giả, hàng nhái, gian lận thương mại…Trong môi trường pháp lý không lành mạnh, nhiều khi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không được đánh giá đúng thực chất của nó. Điều này sẽ dẫn tới thiệt hại kinh tế lớn và rối loạn trật tự xã hội.

– Văn hóa, xã hội

Ở mỗi vùng khác nhau sẽ tạo ra những thuận lợi hoặc khó khăn cho doanh nghiệp trong cạnh tranh là khác nhau do văn hóa xã hội của từng vùng là khác nhau. Giá trị văn hóa phái sinh, lối sống, thị hiếu,…có tác động một cách gián tiếp tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua khách hàng và cơ cấu nhu cầu thị trường.

Vấn đề khoa học, công nghệ và thông tin.

Khoa học, công nghệ là nền tảng của cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại của nền kinh tế quốc dân nói chung cũng như của từng doanh nghiệp. Đây là tiền đề để các doanh nghiệp ổn định, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Khoa học và công nghệ cũng có tác động trực tiếp đến doanh nghiệp bằng cách cung cấp những phương tiện và công nghệ tiên tiến nhằm tạo ra sản phẩm mới, nâng cao hiệu quả hoạt động, giảm chi phí sản xuất.

Thông tin cũng có vai trò vô cùng quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Để cạnh tranh thành công, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng cần phải có thông tin về thị trường, về đối thủ cạnh tranh và biết cách xử lý có hiệu quả những thông tin thu nhập được. Khoa học và công nghệ hiện đại chính là phương tiện giúp cho doanh nghiệp thu thập, xử lý, lưu trữ và truyền đạt thông tin một cách nhanh nhất, chính xác nhất.

: Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

b/ Nhóm nhân tố thuộc môi trường ngành

– Sự đe dọa của các đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành:

Mức độ cạnh tranh trong ngành phụ thuộc vào tốc độ phát triển ngành, sự khác biệt của sản phẩm, chi phí chuyển đổi…Trong trường hợp rào cản rút lui lớn, hoặc nhiều đối thủ cạnh tranh có lực lượng cân bằng, hoặc nhiều đối thủ cạnh tranh mạnh, các doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc khai thác năng lực cạnh tranh của mình.

– Nguy cơ nhập cuộc của những đối thủ cạnh tranh mới:

Tính hấp dẫn của ngành tùy thuộc vào rào cản gia nhập và rút lui khỏi thị trường. Các rào cản đó có thể là: lợi thế kinh tế của quy mô, khác biệt của sản phẩm, yêu cầu về đầu tư, chi phí chuyển đổi, khả năng thâm nhập hệ thống phân phối, và các điều kiện khác như vị trí, vùng nguyên liệu, sự tác động của chính phủ.

– Mối đe dọa từ sản phẩm thay thế:

Mức độ đe dọa này phụ thuộc vào giá của sản phẩm thay thế trong mối liên hệ với giá sản phẩm của ngành, chi phí chuyển đổi, mức độ và xu hướng của người mua muốn chuyển sang sản phẩm thay thế.

– Quyền lực của người mua:

Quyền lực của người mua lớn khi chi phí mua sản phẩm chiếm một phần nhỏ trong chi phí của người mua, sản phẩm không có sự khác biệt, chi phí chuyển đổi thấp, có thể hợp nhất ngược chiều…Khi quyền lực của người mua lớn, họ sẽ gây áp lực đối với các doanh nghiệp, do đó nó sẽ tạo ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp.

– Quyền lực của người cung ứng:

Phụ thuộc vào số lượng, tầm quan trọng của ngành đối với các nhà cung ứng, tầm quan trọng của sản phẩm của nhà cung ứng đối với người mua, sự khác biệt trong cung ứng và chi phí chuyển đổi sang nhà cung ứng khác.

Xem thêm: khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệpquyết định là gìstrategies là gì

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.